Truyện Tiếng Đức Song Ngữ: Immer wenn der Rappel kommt
Chào mừng bạn đến với chuyên mục học tập qua truyện tiếng Đức song ngữ của Tiếng Đức Nhân Tâm. Đọc truyện tiếng Đức song ngữ mỗi ngày giúp bạn chinh phục từ vựng siêu tốc. Hôm nay, chúng mình giới thiệu cuốn truyện vô cùng hài hước: Immer wenn der Rappel kommt.
Thay vì học ngữ pháp khô khan, hãy đọc bài truyện tiếng Đức song ngữ này. Bạn sẽ khám phá những tình huống dở khóc dở cười do cậu nhóc Rappel gây ra. Cậu ta quấy phá cả gia đình và bà hàng xóm càu nhàu. Truyện tiếng Đức song ngữ này giúp bạn tiếp cận lối hành văn tự nhiên nhất. Qua đó, bạn sẽ học được cách ứng xử với những cơn tức giận trong cuộc sống.
Tiếng Đức Nhân Tâm tin rằng mỗi mẩu truyện tiếng Đức song ngữ đều mang lại cảm hứng mới. Đừng bỏ lỡ cơ hội trau dồi kỹ năng qua bài truyện tiếng Đức song ngữ này. Hãy chọn truyện tiếng Đức song ngữ làm người bạn đồng hành mỗi ngày. Cùng Tiếng Đức Nhân Tâm khám phá bản truyện tiếng Đức song ngữ đặc sắc này ngay nhé!
>> Tham khảo thêm: Truyện Die Bremer Stadtmusikanten
Giới Thiệu Truyện
Niemand ist vor ihm sicher: Eines Morgens verfolgt der kleine Rappel aber auch jeden auf Schritt und Tritt und sorgt ordentlich für Chaos. Schließlich findet er in der miesepetrigen Nachbarin eine neue Freundin und die beiden stoßen auf ganz neue Perspektiven in Bezug auf Gefühle, Launen und Toleranz. Eine Geschichte, die mit Humor und liebevollen Illustrationen auf den Umgang mit Ärger und Frustration eingeht.
Dịch:
Không một ai an toàn trước sự bám đuôi của cậu ta: Vào một buổi sáng nọ, cậu nhóc Rappel bám theo tất cả mọi người như hình với bóng và đảo lộn mọi thứ tung bành lên. Thế nhưng cuối cùng, cậu lại tìm thấy một người bạn mới chính là bà hàng xóm hay càu nhàu. Cả hai đã cùng nhau mở ra những góc nhìn hoàn toàn mới về cảm xúc, tâm trạng và lòng bao dung. Một câu chuyện nhẹ nhàng, hài hước cùng những nét vẽ minh họa đầy yêu thương, mở ra cách đón nhận và ứng xử với những cơn tức giận hay nỗi thất vọng trong cuộc sống.
Truyện Song Ngữ: Immer wenn der Rappel kommt
Der Rappel kam in den frühen Morgenstunden. Ich schlug die Augen auf, und da war er: hüpfte laut und wild in meinem Bett herum. Der Rappel war noch klein und sah nicht besonders gefährlich aus. Weil ich nichts Besseres zu tun hatte, hüpfte ich mit. Bis mein kleiner Bruder vorbeikam.
»Paul auch hüpfen?«, fragte er.
»Nein, geh lieber malen«, riet ich Paul.
Dịch:
Rappel ập đến vào lúc sáng sớm. Tôi vừa mở mắt ra là đã thấy nó rồi: nó đang nhảy tót lên, nhún nhảy ầm ĩ và điên cuồng ngay trên giường của tôi. Trông nó vẫn còn nhỏ thó và chẳng có vẻ gì là nguy hiểm cho lắm. Vì cũng chẳng có việc gì tốt hơn để làm, thế là tôi cũng nhảy nhót theo nó luôn. Cho đến khi cậu em trai của tôi đi ngang qua.
»Paul cũng nhảy nữa?«, thằng bé hỏi.
»Không, em đi vẽ tranh đi«, tôi bảo Paul.
Paul war einverstanden. Zusammen mit dem Rappel verschönerte er den Boden. Und die Couch. Und die Wand. Und die Decke. Da half der Rappel besonders gern mit. Am Ende waren sie sehr zufrieden mit ihrem Werk.
Mama nicht so.
Dịch:
Paul đồng ý ngay. Thế là thằng bé cùng với Rappel bắt tay vào “tô điểm” cho sàn nhà. Rồi đến cả ghế sô-pha. Cả bức tường nữa. Và cả trần nhà luôn. Khoản này thì Cơn Quấy Phá hào hứng giúp một tay lắm. Cuối cùng, hai đứa nhìn ngắm “tác phẩm” của mình một cách đầy mãn nguyện.
Mẹ thì không nghĩ thế.
»Was ist denn hier passiert?«
Und schwups, hatte Mama den Rappel an der Backe. Er wich ihr nicht mehr von der Seite. In der Küche lief er zur Höchstform auf und wuchs ein Stück. Mama und der Rappel stoben durch den Raum, dass es nur so schepperte.
Dịch:
»Cái trò gì xảy ra ở đây thế này?«
Và vèo một cái, Mẹ đã bị Rappel dính chặt lấy. Nó chẳng chịu rời Mẹ nửa bước. Vào đến phòng bếp, nó bắt đầu bung hết sức bình sinh và lớn phổng lên một khúc. Mẹ và Rappel lao sầm sập qua lại khắp phòng, khiến bát đĩa đồ đạc kêu loảng xoảng, xoong chảo khua inh ỏi.
»Geht’s noch lauter?!«
Das war Papa. Von dem ganzen Geschepper war er wach geworden. Der Rappel freute sich, dass nun alle auf den Beinen waren, und klebte sich an Papas Fersen. Papa stieg ins Auto und war direkt auf hundertachzig.
»Warum ist der Tank schon wieder leer?«
Der Rappel musste kichern und wuchs weiter. Das mit dem Tank war natürlich er gewesen.
Dịch:
»Có thể làm ầm ĩ hơn nữa được không đấy?!«
Đó là tiếng của Bố. Bị đánh thức bởi mớ âm thanh loảng xoảng kia, Bố đã tỉnh giấc. Rappel sướng rơn khi thấy giờ đây tất cả mọi người đều đã thức dậy, nó liền bám chặt lấy gót chân Bố. Bố bước vào trong xe ô tô và lập tức nổi trận lôi đình, máu dồn lên tận não.
»Tại sao bình xăng lại hết sạch nữa rồi?!«
Rappel không nhịn được cười khúc khích và lại lớn thêm một chút nữa. Vụ bình xăng này, dĩ nhiên chính là tác phẩm của nó rồi.
Papas Gebrüll konnte man bis in die Schrebergartensiedlung hören.
Da hackte Opa gerade Brennholz. Der Rappel hatte große Lust mitzumachen.
Opa und der Rappel hackten so viel Holz, dass es für das ganze Jahr reichte.
Jetzt war der Rappel fast so groß wie ein Johannisbeerstrauch.
Dịch:
Tiếng gầm vống lên của Bố có thể nghe thấy tận khu vườn ngoại ô xa xa.
Lúc ấy, ông đang bổ củi ở đó. Rappel bỗng thèm được tham gia cùng lắm.
Thế là Ông và Rappel hùng hục bổ nhiều củi đến mức đủ dùng cho cả năm trời.
Giờ đây, Rappel đã lớn gần bằng một bụi cây lý chua rồi.
>> Tiếp tục khám phá kho tàng truyện đặc sắc: Con quạ có bộ lông màu vàng
Als Oma das viele Holz sah, war sie ganz baff.
»Wo sollen wir das denn nun wieder unterkriegen?«, fragte sie.
Der Rappel hatte da eine Idee. Zusammen mit Oma warf er Opas altes Werkzeug aus dem Schuppen. Er war jetzt fast so groß und stark wie Oma.
Dịch:
Khi thấy đống củi nhiều như núi ấy, Bà kinh ngạc đến há hốc cả mồm.
»Thế rồi giờ chúng ta biết nhét hết chỗ này vào đâu được đây hả trời?«, Bà hỏi.
Rappel bấy giờ nảy ra một ý tưởng. Cậu ta cùng với Bà thẳng tay quăng hết mớ công cụ cũ kỹ của Ông ra khỏi nhà kho. Giờ đây, Rappel đã lớn và khỏe gần bằng Bà rồi.
Omas Aufräumaktion hatte unsere Nachbarin Birte Warmbier auf den Plan gerufen.
Wir mochten Frau Warmbier überhaupt nicht, weil sie sich wegen ALLEM beschwerte. Sogar wenn der Hund bellte. Dabei hatten wir gar keinen Hund.
Manchmal tat mir Frau Warmbier aber auch leid, weil sie ganz alleine war.
Dịch:
Màn dọn dẹp hoành tráng của Bà đã kéo theo sự xuất hiện của bà hàng xóm Birte Warmbier.
Nhà tôi chẳng ai ưa nổi bà Warmbier chút nào, bởi vì cái quái gì bà ta cũng cằn nhằn, khiếu nại được. Ngay cả khi có tiếng chó sủa bà ta cũng cằn nhằn. Ngặt một nỗi, nhà tôi làm gì có nuôi con chó nào đâu cơ chứ!
Thế nhưng, đôi khi tôi cũng thấy bà Warmbier thật đáng thương, vì bà ấy chỉ có một mình thui thủi.
Der Rappel mochte Frau Warmbier auf Anhieb und zog bei ihr ein.
Morgens stand er schon sehr, sehr, sehr früh mit ihr auf und mähte den Rasen. Mittags ging er mit ihr einkaufen und beschwerte sich über die Preise. Nachmittags schrieb er mit ihr Beschwerdebriefe an das Ordnungsamt. Und am Abend besuchten Frau Warmbier und der Rappel die Nachbarn.
Frau Warmbier und der Rappel hatten den Nachbarn immer was zu erzählen:
»Ihre Hecke ist zu buschig!«,
»Die Straße ist zu dreckig!«,
»Ihre Kinder spielen zu laut!«
oder:
»Ihr Auto darf hier nicht parken!«.
Dem Rappel gefiel es bei Frau Warmbier so sehr, dass er nicht mehr ging. Er war jetzt so groß wie eine Straßenlaterne.
»Jetzt hat sie endgültig einen Rappel!«, seufzte Papa.
Dịch:
Rappel mến bà Warmbier ngay từ cái nhìn đầu tiên và dọn đến ở hẳn nhà bà ta. Buổi sáng, cậu ta cùng bà thức dậy từ rất, rất, rất sớm để cắt cỏ. Buổi trưa, cậu ta đi mua sắm cùng bà và cằn nhằn về giá cả thị trường. Buổi chiều, cậu ta cùng bà viết thư khiếu nại gửi lên Ban quản lý trật tự đô thị. Và đến tối, bà Warmbier cùng Rappel đi “gõ cửa” các nhà hàng xóm.
Bà Warmbier và Rappel lúc nào cũng có chuyện để ca cẩm với hàng xóm:
»Hàng rào cây nhà bác rậm rạp quá đấy nhé!«,
»Đường xá gì mà bẩn thỉu quá!«,
»Mấy đứa nhỏ nhà anh chơi đùa ầm ĩ quá!«
hoặc là:
»Xe ô tô của chị không được phép đỗ ở đây đâu!«.
Rappel thích ở nhà bà Warmbier đến mức chẳng thèm rời đi nữa. Giờ đây, cậu ta đã lớn bằng cả một cây cột đèn đường rồi.
»Bà ta đúng là rước nợ vào thân, rồ người ra rồi!«, Bố thở dài ngao ngán.
Eines Tages zog ein neuer Nachbar in unsere Straße.
Er hieß Herr Kalttee und hatte einen Umzugswagen dabei. In dem Umzugswagen waren aber keine Möbel. Da stieg doch glatt ein riesengroßer bunter Rappel aus! Frau Warmbier lugte neidisch zwischen ihren Gardinen hervor.
So einen großen Rappel hatte sie noch nie gesehen!
Dịch:
Một ngày nọ, có một người hàng xóm mới chuyển đến con phố của chúng tôi.
Ông ấy tên là Kalttee và có mang theo một chiếc xe tải chở đồ. Thế nhưng, bên trong chiếc xe tải ấy lại chẳng có một mống đồ đạc nào cả. Thay vào đó, một gã Rappel khổng lồ, sặc sỡ sắc màu ngang nhiên bước xuống xe! Bà Warmbier đứng sau tấm rèm cửa lén nhìn ra với ánh mắt đầy đố kỵ.
Cả đời bà chưa từng nhìn thấy một gã Rappel nào to lớn đến nhường ấy!
Die beiden Rappel schienen gut zusammenzupassen. Auch Frau Warmbier und Herr Kalttee mussten das einsehen.
Frau Warmbier, Herr Kalttee und die Rappel machten jetzt alles gemeinsam: Rasen mähen, einkaufen, Beschwerdebriefe schreiben und Nachbarn besuchen. Da war was los in unserer Straße!
Nach einiger Zeit geschah etwas Merkwürdiges: Die beiden Rappel begannen zu schrumpfen!
Dịch:
Hai gã Rappel xem chừng có vẻ rất hợp cạ với nhau. Đến cả bà Warmbier và ông Kalttee cũng phải công nhận điều đó.
Giờ đây, bà Warmbier, ông Kalttee cùng hai gã Rappel làm mọi thứ cùng nhau: từ cắt cỏ, đi mua sắm, viết thư khiếu nại cho đến đi “gõ cửa” nhà hàng xóm. Con phố của chúng tôi dạo ấy cứ gọi là nhộn nhịp, rộn ràng hẳn lên!
Thế rồi sau một thời gian, một điều kỳ lạ đã xảy ra: cả hai gã Rappel bỗng nhiên bắt đầu teo nhỏ lại!
Erst waren sie noch so groß wie ein Haus, dann wie eine Mülltonne, und schließlich gingen sie mir nicht mal mehr bis zum Kinn!
Und noch etwas geschah: Je kleiner die Rappel wurden, desto öfter vergaßen Frau Warmbier und Herr Kalttee, sich bei den Nachbarn zu beschweren.
Manchmal, wenn es schon ganz dunkel war, konnte ich Frau Warmbier, Herrn Kalttee und die beiden Rappel durch das Fenster beobachten.
Dịch:
Mới đầu, hai gã vẫn còn to lù lù như một ngôi nhà, rồi thu lại bằng cái thùng rác, và cuối cùng thì còn chẳng cao đến cằm tôi nữa!
Và còn một điều nữa cũng xảy ra: Hai gã Rappel càng bé lại, thì bà Warmbier và ông Kalttee lại càng ít khi kiếm chuyện cằn nhằn hàng xóm hơn.
Đôi khi, vào những lúc trời đã tối mịt, tôi lại có thể đứng qua khung cửa sổ để quan sát bà Warmbier, ông Kalttee cùng hai gã Rappel nhỏ bé kia.
Dann saßen sie alle am Küchentisch und spielten »Mensch ärger dich nicht«. Die Rappel ließen Frau Warmbier und Herrn Kalttee immer gewinnen.
Ich freute mich für Frau Warmbier und Herrn Kalttee, weil sie jetzt beide so niedliche kleine Rappel hatten!
Dịch:
Khi ấy, tất cả bọn họ sẽ cùng ngồi vây quanh chiếc bàn ăn trong bếp và chơi trò “Cờ cá ngựa”. Hai gã Rappel lúc nào cũng nhường nhịn, để cho bà Warmbier và ông Kalttee giành phần thắng.
Tôi cảm thấy thật vui cho bà Warmbier và ông Kalttee, bởi vì giờ đây, cả hai đều đã sở hữu những chú Rappel nhỏ nhắn, đáng yêu đến thế!
Bài học rút ra từ truyện Immer wenn der Rappel kommt
Qua hành động của cậu nhóc Rappel, Tiếng Đức Nhân Tâm muốn gửi gắm một thông điệp quan trọng. Đó chính là bài học về cách ứng xử với sự tức giận (Ärger).
Mỗi khi ai đó nổi giận, Rappel lại lớn phồng lên và quấy phá mọi người. Câu chuyện nhắc chúng ta rằng nuông chiều cảm xúc tiêu cực sẽ làm tổn thương người xung quanh.
Dù trong cuộc sống hay học tập, hãy luôn học cách làm chủ bản thân. Hãy lắng nghe và chia sẻ để xoa dịu những cơn bực dọc bạn nhé! Bạn có thể tìm hiểu thêm thông tin về cuốn sách gốc tại nhà xuất bản Thienemann-Esslinger của Đức.
>>Tiếp tục hành trình khám phá kho tàng truyện đặc sắc: Luyện đọc tiếng Đức qua truyện kể
🏫TRUNG TÂM TIẾNG ĐỨC NHÂN TÂM
Đăng ký tư vấn ngay hôm nay để nhận:Tư vấn miễn phí về ngành nghề phù hợp
- Test trình độ tiếng Đức miễn phí
- Lộ trình học tập cá nhân hóa
- Thông tin chi tiết về chi phí và thủ tục
Du học nghề Đức – Đầu tư cho tương lai, thu hoạch cả đời!