Truyện Lügen haben kurze Beine – Truyện Tiếng Đức
Tiếng Đức Nhân Tâm giới thiệu truyện Lügen haben kurze Beine, kể về Mischa vì sợ hậu quả nên không dám nói thật khi làm hỏng quà sinh nhật của bạn. Lời nói dối khiến mọi chuyện ngày càng tệ, làm tổn thương tình bạn với thỏ Benny. Qua hành trình đó, câu chuyện gửi gắm thông điệp giản dị nhưng sâu sắc: trung thực và sự cảm thông chính là chìa khóa để hàn gắn mâu thuẫn, giữ gìn những mối quan hệ quý giá. Thông qua việc đọc truyện tiếng Đức, người học không chỉ nâng cao vốn từ và khả năng đọc hiểu mà còn tiếp nhận những bài học nhân văn nhẹ nhàng. Hãy cùng Nhân Tâm đọc truyện tiếng Đức để học hiệu quả và thú vị hơn mỗi ngày nhé!
>> Mời bạn đọc thêm: Truyện Die Bremer Stadtmusikanten
Tại sao nên học Tiếng Đức qua truyện?
Học tiếng Đức qua truyện mang lại rất nhiều lợi ích cho người mới bắt đầu. Khi học tiếng Đức qua truyện, bạn được tiếp xúc với ngôn ngữ trong ngữ cảnh tự nhiên, giúp ghi nhớ từ vựng và cấu trúc dễ dàng hơn. Việc học tiếng Đức qua truyện cũng kích thích trí tưởng tượng, tạo hứng thú và giảm áp lực so với phương pháp truyền thống. Ngoài ra, học tiếng Đức qua truyện giúp rèn luyện kỹ năng đọc hiểu một cách nhẹ nhàng, đồng thời cải thiện khả năng phản xạ ngôn ngữ. Đặc biệt, học tiếng Đức qua truyện còn giúp người học nắm bắt văn hóa Đức qua từng chi tiết nhỏ. Nhờ vậy, học tiếng Đức qua truyện trở thành phương pháp hiệu quả và bền vững mà nhiều người lựa chọn khi muốn học tiếng Đức qua truyện mỗi ngày.
Đọc truyện Lügen haben kurze Beine: Lời nói dối có đôi chân ngắn
Zum Geburtstag bekam Benny eine neue Armbanduhr. Stolz zeigte er sie seinen Freunden Mischa und Cornelius. “Mensch, die hat sogar eine Stoppuhr!” sagte Waschbär Mischa. “Wollen wir gleich ein kleines Wettrennen machen? Du stoppst die Zeit.”
Dịch:
Benny nhận được một chiếc đồng hồ đeo tay mới nhân dịp sinh nhật. Cậu ấy tự hào khoe nó với hai người bạn Mischa và Cornelius. “Tuyệt vời, nó thậm chí còn có cả đồng hồ bấm giờ!” Mischa, chú gấu trúc, nói. “Chúng ta cùng thi xem sao nhé? Cậu bấm giờ xem.”

Gemeinsam bestimmten sie die Rennstrecke: einmal um die große Wiese. Mischa und Cornelius stellten sich an den Startplatz, und Benny kommandierte: “Eins, zwei, drei – los!” Cornelius und Mischa rannten, so schnell sie konnten. Benny stand am Rand der Wiese und feuerte sie an. “Schneller! Noch schneller!” schreier.
Dịch:
Cả hai cùng nhau quyết định đường đua: một vòng quanh đồng cỏ rộng lớn. Mischa và Cornelius vào vị trí xuất phát, và Benny ra lệnh: “Một, hai, ba – bắt đầu!” Cornelius và Mischa chạy nhanh hết sức có thể. Benny đứng ở rìa đồng cỏ và cổ vũ họ. “Nhanh hơn! Nhanh hơn nữa!” anh ta hét lên.

Völlig erschöpft kamen Mischa und Cornelius durchs Ziel. “Zwei Minuten und fünfundfünfzig Sekunden”, sagte Benny. “Morgen probieren wir’s noch mal. Vielleicht könnt ihr noch ein bißchen schneller rennen.” Noch ehe seine Freunde antworten konnten, fragte Benny, ob sie mit ihm auf den Berg steigen wollten.
“Ich war nochnie auf dem Gipfel”, sagte er, “und die Aussicht soll wunderbar sein. Außerdem könnte ich die Zeit stoppen, die wir für den Aufstieg brauchen. Und zum Abendessen sind wir wieder zu Hause.” Cornelius winkte müde ab aber Mischa wollte Benny begleiten.
“Prima”, sagte Benny, “denn Mischa war sein bester Freund.”
Dịch:
Mischa và Cornelius đã cán đích trong tình trạng hoàn toàn kiệt sức. “Hai phút năm mươi lăm giây,” Benny nói. “Ngày mai chúng ta sẽ thử lại. Có lẽ các cậu sẽ chạy nhanh hơn một chút.” Trước khi bạn bè kịp trả lời, Benny hỏi, liệu họ có muốn leo núi cùng anh ấy không. “Tôi vẫn còn”
“Tôi chưa bao giờ lên đến đỉnh núi,” anh ấy nói, “và người ta nói rằng quang cảnh ở đó rất tuyệt vời. Hơn nữa, tôi có thể tính thời gian chúng ta leo lên. Và chúng ta sẽ về nhà ăn tối.” Cornelius mệt mỏi xua tay nhưng Mischa muốn đi cùng Benny.
“Tuyệt vời,” Benny nói, “vì Mischa là bạn thân nhất của cậu ấy.”

Sie packten eine kleine Brotzeit in ihre Rucksäcke und marschierten los. Es war ein wundervoller Tag. Die Sonne schien so hell, daß Bennys neue Armbanduhr funkelte und blitzte. Als sie den Bergwald erreicht hatten, bekam Mischa ein bißchen Angst. “Meinst du, daß es hier Gespenster gibt?” fragte er. “Blödsinn”, sagte Benny. “Gespenster gibt es höchstens in Geschichten und in der Phantasie.”
Dịch:
Họ gói một ít đồ ăn nhẹ vào ba lô và lên đường. Đó là một ngày tuyệt vời. Mặt trời chiếu sáng rực rỡ đến nỗi chiếc đồng hồ đeo tay mới của Benny lấp lánh và tỏa sáng. Khi đến khu rừng trên núi, Mischa hơi sợ hãi. “Cậu nghĩ ở đây có ma không?” cậu hỏi. “Vớ vẩn,” Benny nói. “Ma chỉ tồn tại trong truyện và trong trí tưởng tượng thôi.”
Nach einer Weile bergauf war es Zeit für eine Rast. “Puh, ist mir heiß”, sagte Mischa. “
Dịch:
Sau một hồi leo dốc, đã đến lúc nghỉ ngơi. “Phù, nóng quá,” Mischa nói.” Tôi sẽ nhảy xuống nước!”.
“Đó là một ý kiến hay.” Benny lập tức nhảy theo sau. Trước đó, cậu đã cẩn thận đặt chiếc đồng hồ đeo tay mới lên một tảng đá.
Nach dem Bad schaute Benny auf seine Uhr. “Wir haben noch massenhaft Zeit”, sagte er, “wir können auch noch eine Runde schlafen”Benny schlief schnell ein, aber Mischa war putz-munter. Sein Blick fiel auf die Armbanduhr.
“Ob sie mir wohl steht?” überlegte er. Vorsichtig nahm er sie von dem Felsblock und wollte sie an seiner Pfote befestigen. Das Armband rutschte ihm weg. die Uhr fiel auf den Stein, und es klirrte. Das Uhrglas war in viele, viele kleine Scherben zersprungen.
Mischa war entsetzt. Was hatte er getan! Das Geburtstagsgeschenk seines besten Freundes hatte er kaputtgemacht! Benny würde bestimmt nicht mehr sein Freund sein wollen!
Dịch:
Sau khi tắm xong, Benny nhìn đồng hồ. “Chúng ta vẫn còn nhiều thời gian,” cậu nói, “chúng ta thậm chí có thể ngủ thêm một giấc nữa.”
Benny nhanh chóng ngủ thiếp đi, nhưng Mischa thì vẫn tỉnh táo. Ánh mắt anh ta dán chặt vào chiếc đồng hồ đeo tay.
“Nó có hợp với mình không nhỉ?” cậu tự hỏi. Cẩn thận, cậu nhặt nó lên khỏi tảng đá và cố gắng đeo vào chân. Chiếc vòng tay tuột khỏi tay cậu. Chiếc đồng hồ rơi xuống đá với tiếng loảng xoảng. Mặt kính đồng hồ vỡ tan thành nhiều mảnh nhỏ li ti.
Mischa kinh hãi. Anh ta đã làm gì vậy! Cậu ta đã làm hỏng món quà sinh nhật của người bạn thân nhất! Benny chắc chắn sẽ không muốn làm bạn với cậu ta nữa!

Da wachte Benny auch schon auf, sah die Bescherung und kriegte eine große Wut. Er blickte Mischa an, doch ehe er auch nur ein Wort sagen konnte. redete Mischa los. “Ich weiß nicht, was da passiert ists”, log er. “Ich war es nicht. Wirklich nicht. Vielleicht ist die Uhr einfach von dem Felsen gerutscht?”
Benny war nicht überzeugt. Finster blickend packte er die kaputte Uhr in seinen Rucksack und stand auf.
Dịch:
Benny vừa tỉnh dậy, nhìn thấy đống lộn xộn liền nổi giận. Anh nhìn Mischa, nhưng trước khi anh kịp nói lời nào, Mischa đã bắt đầu cằn nhằn. “Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra,” anh ta nói dối. “Không phải tôi. Thật sự không phải. Có lẽ chiếc đồng hồ chỉ trượt khỏi tảng đá thôi?”
Benny vẫn không tin. Vẻ mặt ủ rũ, anh ta bỏ chiếc đồng hồ hỏng vào ba lô rồi đứng dậy.

“Ich lüg dich doch nicht an!” sagte Mischa, während sie weiter wanderten. “Ich bin doch dein Freund!”
“Vielleicht hast du was Schlechtes geträumt und im Schlaf um dich geschlagen und dabei die Uhr erwischt. So was kann passieren. Oder vielleicht war ein kleines Erdbeben?”
Mischa gab sich große Mühe, aber er merkte, daß das wenig Zweck hatte. Benny wußte wahrscheinlich, daß Mischa log. Schrecklich!
Die Lüge wurde immer größer und schwärzer. Wie ein Stein lag sie auf Mischas Herz.
Dịch:
“Tớ không nói dối cậu đâu!” Mischa nói khi họ tiếp tục đi bộ. “Tớ là bạn của cậu mà!”
“Có thể bạn gặp ác mộng và nổi nóng trong lúc ngủ, vô tình đập vào đồng hồ. Điều đó hoàn toàn có thể xảy ra. Hoặc có lẽ đã có một trận động đất nhỏ?” Mischa đã cố gắng hết sức, nhưng cậu nhận ra điều đó vô ích. Benny có lẽ đã biết Mischa đang nói dối. Thật tệ! Lời nói dối ngày càng lớn dần và đen tối hơn. Nó đè nặng lên trái tim Mischa như một tảng đá.

Mischa war so verstrickt in seine Lügen, daß er nicht mehr auf den Weg achtete. Und so stolperte er über einen losen Stein und fiel hin.
“Aua”, schrie er und rappelte sich wieder auf. Und dann konnte er seine Lüge nicht mehr ertragen. Warte auf mich, rief er Benny hinterher, »ich muß dir was sagen!
Dịch:
Mischa mải mê nói dối đến nỗi quên mất mình đang đi đâu. Thế là anh ta vấp phải một hòn đá lỏng lẻo và ngã. “Ái quá!” anh ta kêu lên, vội vàng đứng dậy.
Rồi anh ta không thể chịu đựng được lời nói dối của mình thêm nữa. “Đợi tôi với,” anh ta gọi với theo Benny, “Tôi cần nói với cậu một chuyện!”

Und dann schüttete er sein Herz aus.
“Es ist alles nicht wahr. Ich habe gelogen. Du hast die Uhr nicht selbst kaputtgemacht. Ich war es! Ich wollte sie anprobieren, und dann ist sie mir aus der Tatze gefallen, und dann war sie kaputt!”
Mit jedem Wort wurde es Mischa leichter ums Herz.
Deshalb sagte er auch noch: »Ich hatte einfach Angst. es zuzugeben. Ich hatte Angst, daß du nicht mehr mein
Freund sein wolltest.
“Da hast du recht”, antwortete Benny.
Dịch:
Và rồi anh ấy đã trải lòng mình: “Tất cả đều không đúng. Tôi đã nói dối. Bạn không tự làm vỡ đồng hồ. Chính tôi đã làm vỡ nó! Tôi muốn đeo thử, rồi nó rơi khỏi tay tôi và bị vỡ!”
Càng nghe nhiều lời, lòng Mischa càng nhẹ nhõm hơn.
Đó là lý do tại sao anh ấy cũng nói: “Anh chỉ đơn giản là sợ phải thừa nhận điều đó. Anh sợ rằng em sẽ không còn thuộc về anh nữa.”
Bạn muốn làm bạn với anh ấy.
“Cậu nói đúng,” Benny đáp.

“Absolut recht”, wiederholte er. “Ich bin nicht mehr dein Freund. Erst hast du meine Uhr zerbrochen, und dann hast du mich auch noch angelogen. Wirkliche Freunde machen so was nicht. Das werde ich nie vergessen. Ich steige allein auf den Gipfel. Du kannst machen, was du willst. Ich will dich niemals wieder-sehen. Niemals!”
Und schon marschierte Benny los, ohne sich noch einmal nach Mischa umzudrehen.
Dịch:
“Hoàn toàn đúng,” anh ta lặp lại. “Tôi không còn là bạn của cậu nữa. Đầu tiên cậu làm hỏng đồng hồ của tôi, rồi cậu lại nói dối tôi. Bạn bè thực sự không làm thế. Tôi sẽ không bao giờ quên chuyện này. Tôi sẽ leo lên đỉnh núi một mình. Cậu muốn làm gì thì làm. Tôi không bao giờ muốn gặp lại cậu nữa. Không bao giờ!”
Và Benny bước đi mà không hề quay lại nhìn Mischa lần nào nữa.

Benny war so wütend, daß ihm der Aufstieg zum Gipfel schwerfiel. Und die Aussicht von oben konnte er auch nicht genießen. Die ganze Zeit mußte er an Mischa denken.
Er war wütend auf ihn, sicher. Aber irgendwie fehlte ihm sein Freund. Zu zweit wäre es sehr viel schöner hier, dachte Benny und erschrak über seine eigenen Gedanken. In dem Moment hörte er eine Stimme hinter sich.
Dịch:
Benny tức giận đến nỗi anh khó lòng leo lên đến đỉnh núi. Và anh cũng không thể tận hưởng quang cảnh từ trên đỉnh. Anh không ngừng nghĩ về Mischa.
Chắc chắn rồi, cậu ấy giận bạn mình. Nhưng không hiểu sao cậu ấy lại nhớ người bạn ấy. Benny nghĩ, giật mình vì chính suy nghĩ của mình, ở đây có hai người thì sẽ tuyệt hơn nhiều. Ngay lúc đó, cậu nghe thấy một giọng nói phía sau mình.

“Hier, bitte schön”, sagte Mischa. “Meine leckerste Karotte. Darf ich morgen deine Uhr zum Uhrmacher bringen? Kannst du mir bitte verzeihen? Es tut mir alles so leid!”
Dịch:
“Đây này,” Mischa nói. “Củ cà rốt ngon nhất của tôi. Ngày mai tôi có thể mang đồng hồ của bạn đến thợ sửa đồng hồ được không? Xin bạn tha thứ cho tôi nhé? Tôi rất xin lỗi!”

Benny schluckte ein, zwei Mal, doch dann rief er:
“Natürlich verzeihe ich dir!” Die beiden Freunde liefen aufeinander zu und fielen sich um den Hals. Dann sagte Benny: “Wir werden doch nicht wegen einer blöden Uhr unsere Freundschaft zerbrechen lassen, oder?”
Schweigend saßen sie nebeneinander. Sie fühlten sich frei und glücklich.
Dịch:
Benny nuốt nước bọt một hai lần, nhưng rồi cậu ta hét lên:
“Tất nhiên là tớ tha thứ cho cậu rồi!” Hai người bạn chạy về phía nhau và ôm chầm lấy nhau. Sau đó Benny nói: “Chúng ta sẽ không để một chiếc đồng hồ ngớ ngẩn phá vỡ tình bạn của mình, phải không?”
Họ ngồi im lặng cạnh nhau. Họ cảm thấy tự do và hạnh phúc.

Auf dem Weg bergab mußten sie wieder durch den großen Bergwald.
“Vielleicht hattest du doch recht”, sagte Benny.
“vielleicht gibt es hier wirklich Gespenster.”
“Ich möchte nur noch gerne wissen, was das für Gespenster sind”, antwortete Mischa.
Dịch:
Trên đường xuống dốc, họ lại phải đi xuyên qua khu rừng núi rộng lớn.
“Có lẽ cuối cùng cậu đã đúng,” Benny nói.
“Có lẽ ở đây thực sự có ma.”
“Tôi chỉ muốn biết chúng là loại ma gì thôi,” Mischa đáp.

🏫TRUNG TÂM TIẾNG ĐỨC NHÂN TÂM
Đăng ký tư vấn ngay hôm nay để nhận:
- Tư vấn miễn phí về ngành nghề phù hợp
- Test trình độ tiếng Đức miễn phí
- Lộ trình học tập cá nhân hóa
- Thông tin chi tiết về chi phí và thủ tục
Du học nghề Đức – Đầu tư cho tương lai, thu hoạch cả đời!